Thổ Nhĩ Kỳ – Vùng đất huyền thoại “nửa Á nửa Âu”

Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia đặc biệt, có thành phố Istanbul nằm trên cả 2 lục địa Á – Âu, 97% diện tích thuộc Châu Á và chỉ 3% lãnh thuộc nằm bên Châu Âu nhưng tốc độ phát triển, sự hiện đại lại hoàn toàn theo tiêu chuẩn Châu Âu.

Tho Nhi Ky 1

Tên chính thức của Thổ Nhĩ Kỳ là nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, là một quốc gia cộng hòa nghị viện xuyên lục địa. Với những du khách Việt còn xa lạ với Thổ Nhĩ Kỳ thì những thông tin sau đây sẽ tổng hợp rõ nét hơn về đất nước, con người, văn hóa, và lối sống đất nước này, cho bạn một cái nhìn tổng quát và một động lực thúc đẩy bạn xách balô lên mà du lịch đất Thổ.

Vị trí địa lý

Thổ Nhĩ Kỳ tọa lạc tại vị trí cực kỳ đặc biệt, nằm trong khu vực Á – Âu (Eurasia) với diện tích 783.562 km², trải dài từ 36° tới 42° Vĩ Bắc và từ 26° tới 45° Kinh Đông. Đường biên giới trải dài trên 2.573 km đường bộ và 8.333 km đường bờ biển (gồm cả các đảo).

Bao quanh Thổ Nhĩ Kỳ là 8 quốc gia láng giềng: Bulgaria ở phía Tây Bắc; Hy Lạp phía Tây; Georgia, Armenia và phần Nakhichevan của Azerbaijan ở phía Đông Bắc; Iran phía Đông; phía Đông Nam là Iraq và Syria. Ngoài ra, nước này còn tiếp giáp với biển Đen ở phía Bắc, biển Aegean, biển Marmara ở phía Tây và Địa Trung Hải ở phía Nam.

Mặc dù 97% diện tích lãnh thổ thuộc châu Á và Trung Đông, và chỉ 3% thuộc châu Âu nhưng các chính sách của Thổ Nhĩ Kỳ kể từ khi thành lập nước cộng hòa (1923) đã giúp cho quốc gia này thành công trong xây dựng một xã hội hiện đại theo kiểu châu Âu, nhưng vẫn giữ được những nét đặc trưng của văn hóa Trung Đông truyền thống. Sở hữu vị trí địa lý chiến lược nối liền hai châu lục Á – Âu, lại nằm giữa ba vùng biển lớn, Thổ Nhĩ Kỳ luôn đóng vai trò cầu nối, trung tâm trung chuyển của các luồng giao thương hàng hóa, dịch vụ của cả khu vực Đông Âu, Nam Âu, Tây Á và kết nối qua Địa Trung Hải để gắn kết trực tiếp với các quốc gia Bắc Phi.

 

Tho Nhi Ky 4

Lịch sử

Anatolia là phần lãnh thổ thuộc Châu Á, là đất mẹ của Thổ Nhĩ Kỳ, nơi này có người cư trú từ thời đại đồ đá mới. Sau khi bị Alexandros Đại đế chinh phục, Anatolia bị Hy Lạp hóa, kéo dài đến giai đoạn Đế quốc La Mã cai trị, rồi Đế quốc Đông La Mã. Mãi thế kỷ 11, người Thổ Seljuk mới bắt đầu di cư đến đây, khởi đầu quá trình Thổ Nhĩ Kỳ hóa.

Cuối thế kỷ 13, người Ottoman thống nhất Anatolia và thiết lập một đế quốc gồm nhiều lãnh thổ tại Đông Nam Âu, Tây Á và Bắc Phi, trở thành cường quốc tại Âu – Á và Châu Phi trong thời kỳ hiện đại.

Trong giai đoạn thế kỷ 15 đến 17, Thổ Nhĩ Kỳ phát triển cực kỳ thịnh vượng dưới sự cai trị của đế chế Ottoman, sau đó bước vào thời kỳ suy yếu và thu hẹp phạm vi ảnh hưởng trong suốt hai thế kỷ 18-19. Các cải cách Tanzimat hiện đại hóa Ottoman đã không đủ tiềm lực để ngăn chặn đế quốc tan rã.

Đầu thế kỷ 20, đế chế Ottoman gia nhập Liên minh Trung tâm cùng với Đức, Áo, Hungary, Italia và tham gia Thế chiến thứ I chống lại Phe Hiệp ước nhưng thất bại thảm hại và tuyên bố đầu hàng.

Khoảng năm 1920, cuộc chiến tranh giành độc lập của Thổ Nhĩ Kỳ đã nổ ra với sự tập hợp lực lượng của những người dân Thổ Nhĩ Kỳ theo đường lối dân tộc chủ nghĩa chống lại việc chia cắt đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Mustafa Kemal Atatürk, cuộc chiến giành độc lập đã thành công, dẫn đến việc thành lập nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại vào năm 1923, với Atatürk là tổng thống đầu tiên, chấm dứt sự tồn tại của đế chế Ottoman. Thủ đô được chuyển từ Istanbul về Ankara.

Từ ngày thành lập nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ đến nay, chính phủ đã tiến hành hàng loạt các cuộc cải cách sâu rộng về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo. Thổ Nhĩ Kỳ ngày càng phát triển, hiện đại theo tiêu chuẩn Châu Âu dù là một đất nước còn đậm sắc văn hóa Trung Đông.

Tho Nhi Ky 2

Người Thổ Nhĩ Kỳ

Điều 66 của Hiến pháp Thổ Nhĩ Kỳ định nghĩa một người Thổ Nhĩ Kỳ là “bất kỳ ai rằng buộc với quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ thông qua quan hệ công dân”; do đó về pháp lý thì thuật ngữ người Thổ Nhĩ Kỳ là một công dân Thổ Nhĩ Kỳ, khác biệt với định nghĩa dân tộc.

Là một đất nước nằm ở vị trí giao thoa giữa nhiều nền văn minh lớn, Thổ Nhĩ Kỳ được xem là một đất nước đa sắc tộc. Tuy nhiên, các dân tộc phân bố không đều giữa các vùng, miền trên toàn lãnh thổ. Dân số của Thổ Nhĩ Kỳ gồm ba nhóm cộng đồng chính: Người Thổ Nhĩ Kỳ chiếm 76%, đứng thứ hai là người Kurd (chiếm 15,7%) và sau đó là các nhóm dân tộc thiểu số khác. Trong đó, có khoảng 2,5% dân số là các di dân quốc tế, đất nước này đã chấp thuận trên một triệu người tị nạn Syria từ khi nội chiến Syria bắt đầu.

Người Kurd là một dân tộc riêng biệt, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Đông Nam của Thổ Nhĩ Kỳ, họ là nhóm thiểu số lớn nhất và chiếm khoảng 18% dân số toàn quốc. Các nhóm thiểu số khác ngoài người Kurd được cho là chiếm 7-12% dân số. Các dân tộc thiểu số ngoài ba dân tộc được công nhận chính thức như kể trên không có bất kỳ quyền lợi nào.

Theo số liệu thống kê năm 2014 của cơ quan thống kê Thổ Nhĩ Kỳ, dân số Thổ Nhĩ Kỳ là 77,7 triệu người. Đất nước này không phải chịu quá nhiều gánh nặng từ việc gia tăng dân số một cách ồ ạt như một số quốc gia Trung Đông láng giềng hay gặp phải tình trạng già hóa dân số như nhiều nước phát triển châu Âu.

Văn hóa

Văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ cực kỳ đa dạng, gồm nhiều nền văn hóa như đế chế Ottoman, Châu Âu, và các truyền thống Hồi giáo. Vì chuyển đổi từ một nhà nước tôn giáo thời đế chế Ottoman qua một quốc gia hiện đại với một sự tách biệt rất rõ ràng giữa nhà nước và tôn giáo, nên sự tự do thể hiện nghệ thuật ở Thổ Nhĩ Kỳ được tôn trọng rõ rệt.

Trong những năm đầu của nền cộng hoà, chính phủ đã đầu tư nhiều khoản tài nguyên vào nghệ thuật, như hội họa, điêu khắc, kiến trúc, và nhiều ngành khác. Điều này được thực hiện nhờ vào cả quá trình hiện đại hóa và việc sáng tạo một bản sắc văn hóa riêng. Hiện nay, kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ đã phát triển tới mức đủ đảm bảo cho sự tự do sáng tạo nghệ thuật của các nghệ sĩ.

Vì nhiều yếu tố lịch sử còn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định bản sắc Thổ Nhĩ Kỳ, nên văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ có thể xem là một sự tổng hợp đáng chú ý giữa các nỗ lực rõ rệt nhằm trở thành “hiện đại” và Tây phương hóa, nhưng vẫn giữ lại truyền thống t ôn giáo và các giá trị lịch sử lâu đời.

Tho Nhi Ky 3

Ẩm thực

Ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ là bộ sưu tập tinh hoa của ẩm thực Địa Trung Hải, Trung Á, Kavkazg, và cả Ả Rập. Thịt bò là loại thịt quan trọng nhất (thịt cừu cũng phổ biến nhưng thịt lợn rất khó tìm thấy mặc dù không bất hợp pháp), các loại rau củ gồm cà tím, hành tây, đậu lăng, cà chua, tỏi, và dưa chuột là loại rau chính. Ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ đặc biệt một phần là nhờ các loại gia vị cực kỳ phong phú. Các loại cây lương thực chính là lúa, bulgur lúa mì và bánh mì, và các món ăn thường được nấu chín trong dầu thực vật hoặc đôi khi là bơ.

Một bữa ăn đúng chuẩn Thổ Nhĩ Kỳ tại nhà hàng thường bắt đầu với một món canh, súp đậu lăng (mercimek çorbasi), và một tập hợp các món khai vị Mèze gồm ô liu, phô mai, dưa chua và các món ăn nhỏ. Mèze có thể dễ dàng được làm thành một bữa ăn đầy đủ, đặc biệt là nếu món này được ăn cùng với Raki. Món chính thường là thịt, một loại món ăn phổ biến và tốt nhất của Thổ Nhĩ Kỳ, như Doner Kebap, Şiş Kebab, thịt xiên que, Köfte (thịt viên)…

Món ăn truyền thống Doner Kebap (bánh mì kẹp thịt nướng xoay) của Thổ Nhĩ Kỳ tuy nổi tiếng khắp thế giới, và rất được ưa chuộng tại Việt Nam, nhưng món quốc hồn quốc túy của đất nước này lại chính là kẹo dẻo Lokum hay Turkish Delight – món quà thay cho những lời chúc ngọt ngào nhất. Ngoài ra, bánh Baklava, mật ong gỗ thông Marmaris, bánh ngọt hạt dẻ Bursa… cũng là những món ăn bạn không thể bỏ qua.

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ chính thức là tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, đây là tiếng mẹ đẻ của xấp xỉ 85% dân số. Khoảng 12% dân số nói tiếng Kurd như tiếng mẹ đẻ. Tiếng Ả Rập và tiếng Zaza là các ngôn ngữ mẹ đẻ của hơn 1% dân số, và một vài ngôn ngữ khác là ngôn ngữ mẹ đẻ của các bộ phận dân tộc thiểu số.

Từ sau năm 1923, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ có nhiều yếu tố từ tiếng Ả Rập và Ba Tư thay thế những từ có nguồn gốc Thổ Nhĩ Kỳ cổ xưa. Kể từ năm 1991, các ấn phẩm, chương trình phát sóng radio, và các bài diễn thuyết trước công chúng sử dụng nhiều ngôn ngữ không hợp pháp bị cấm. Ngày nay, đa số những người trẻ tuổi chỉ nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại, sử dụng bảng chữ cái Latin kết hợp với hệ thống nguyên âm Thổ Nhĩ Kỳ.

Tôn giáo

Hồi giáo là tôn giáo lớn nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ, có khoảng 97,8% dân số thực sự theo Hồi giáo. Hầu hết người Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ là Hồi giáo Sunni (khoảng 70-80%), Hồi giáo Shia khoảng 20-30% dân số. Ngoài ra còn có một cộng đồng Shia Twelver chiếm khoảng 3% dân số. Vì thế Thổ Nhĩ Kỳ cũng có các ngày lễ của đạo Hồi, tiêu biểu nhất là tháng lễ ăn chay Ramadan và lễ hiến sinh Kurban Bayram.

Các tôn giáo khác tại Thổ Nhĩ Kỳ chỉ chiếm từ 1% – 2% dân số và hầu hết trong số này thuộc về Kitô giáo. Kitô giáo có một lịch sử lâu dài ở Anatolia (nay là một phần của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ ), là nơi ra đời của nhiều Kitô hữu Tông Đồ và Thánh, chẳng hạn như Saint Paul, Saint Timothy, Saint Nicholas. Nhìn chung các tín đồ Kitô giáo được tôn trọng và không gặp vấn đề gì lớn trong cuộc sống tại Thổ Nhĩ Kỳ – quốc gia có truyền thống Hồi giáo ôn hòa.

Các thành phố du lịch nổi tiếng của Thổ Nhĩ Kỳ